Thứ tư, nguy cơ khủng hoảng tài chính - tiền tệ trong phạm vi một số quốc gia Châu Á là có thật
Các số liệu ban bố gần đây đã phản chiếu sự mất cân đối nghiêm trọng giữa dòng tiền vào - ra tại các nền kinh tế tốp đầu của Châu Á. Thứ hai, kinh tế Mỹ vẫn ảnh hưởng lớn đến kinh tế thế giới, đồng USD vẫn chưa thể bị thay thế. Là những cơ hữu quan trọng tin tưởng. Để làm sáng tỏ hơn về căn nguyên của hiện tượng rút vốn kể trên, chúng ta cần hiểu sâu hơn về kinh tế thế giới trong thời đoạn hiện giờ.
Điều cấp thiết bây giờ là tìm nguồn vốn (không hề rẻ như trước đây) để đưa vào nền kinh tế nếu không muốn bị “sốc” về tăng trưởng.
Trong khi đó phần đông các nước Châu Á mà Trung Quốc là đại diện, sau khủng hoảng lại có sự phát triển tương đối thành công, tốc độ tăng trưởng liên tiếp ở mức cao (từ 8,5-9,5%/năm) trong nhiều năm liền và GDP của Trung Quốc đến quý III/2010 đã vượt Nhật Bản chiếm vị trí thứ 2 thế giới sau Mỹ.
Thứ nhất, đặc trưng của kinh tế thế giới hiện giờ là sự phát triển không đều giữa các quốc gia, các nền kinh tế và các khu vực kinh tế. Sau khủng hoảng kinh tế thế giới năm 2008 đến nay, thế giới chứng kiến sự “trì trệ” của các quốc gia có nền kinh tế phát triển, cụ thể: Chủ tịch FED, ông Ben Bernanke từng dìm vào năm 2010 là kinh tế Mỹ “u ám” và “u ám một cách bất thường”; nước Nhật “vật lộn” với đồng yen tăng giá “khủng khiếp”, có lúc đạt đỉnh 75 yen/USD và “vô địch” thế giới về tỉ lệ nợ công với mức 200%/GDP; Châu Âu “lao đao” sau 3 năm chống đỡ “bão” nợ công.
Song muốn đón nhận những cơ hội và khắc phục những tác động xấu có thể đến, không có cách nào khác Châu Á cần cải cách.
Kinh tế Mỹ trong những năm qua tuy tốc độ tăng trưởng chưa được như kỳ vọng (từ 1,5-2,5%/năm), không bằng kinh tế Trung Quốc nhưng vẫn hơn hẳn kinh tế Nhật Bản và khu vực Eurozone.
Chỉ với tuyên bố về khả năng thu hẹp QE3 với trọng tâm giảm tiền mua trái khoán (có khả năng từ 85 tỉ USD xuống còn 75 tỉ USD) đã làm “rung chuyển” tất cả hệ thống tài chính – tiền tệ các nước tốp đầu Châu Á.
Hiện đã có những lo ngại về sự tái tạo của cuộc khủng hoảng tài chính năm 1997 tại các nhà nước Đông Nam Á.
# Rằng kịch bản khủng hoảng tài chính năm 1997 là khó lặp lại. Điều này chứng tỏ sự phụ thuộc vào đồng USD của các nước Châu Á không chỉ trong giai đoạn trước đây mà cả tuổi sau này.
Viện Đầu tư BlackRock cho hay, trong 3 tháng qua đã có 44 tỉ USD đã rời khỏi TTCK và trái khoán, trong khi đó chỉ có 7,6 tỉ USD tiền đầu tư được đưa vào. Nhưng Châu Á hiểu rằng dịp sử dụng vốn rẻ sẽ giảm dần, sức ép về thanh khoản sẽ tăng lên và Châu Á cũng cần hiểu rằng kinh tế Mỹ (có thể cả Nhật Bản và Châu Âu) phục hồi là dịp lớn đưa kinh tế toàn cầu tăng trưởng và Châu Á cũng có lợi trong xu thế đó.
Duyệt y cách phản ứng mẫn cảm, tức thì của hệ thống tài chính – tiền tệ Châu Á đối với thông điệp về khả năng thu hẹp QE3 của ông Ben Bernanke cho thấy, Châu Á bây chừ rất cần kinh tế Mỹ.
Điều này thể hiện qua tốc độ tăng trưởng đã giảm sút (GDP của Trung Quốc giảm từ 9,5 xuống 7,5%), đồng tiền nhiều nhà nước đã giảm mạnh (Ấn Độ và Indonesia).
Tuy nhiên, với gần 7. Như vậy, các nhà nước có tốc độ tăng trưởng cao ở Châu Á đang đứng trước nguy cơ và thử thách lớn kể từ cuộc khủng hoảng kinh tế thế giới năm 2008 trở lại đây. Kinh tế phát triển theo chu kỳ, theo quy luật đó là thực tại, vì vậy nếu xuất hiện nguy cơ khủng hoảng tài chính - tiền tệ trong khuôn khổ một số quốc gia Châu Á cũng chưa phải là điều lợt nhất.
Vì vậy, sau tuổi tăng trưởng cao, ổn định, Châu Á bước vào ngưỡng của khó khăn cũng là điều thường ngày và cần có sự chủ động đón nhận nếu không muốn khó khăn hơn nữa. Thứ ba, sự phụ thuộc lẫn nhau giữa các nền kinh tế trên thế giới ngày một sâu và chặt. Diễn biến tiền tệ trong 3 tháng qua nhận thấy tháng tế Mỹ không chỉ là câu chuyện của nước Mỹ, mà còn là vấn đề của nhiều nền kinh tế, của nhiều khu vực kinh tế khác.
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét