Có một con chim sâm cầm bị thương, con chim bị vướng bẫy, sau đấy nó thoát ra, một cô bé khoảng 14-15 tuổi, nhà ven Hồ Tây nhặt được chim, mang nó về nuôi nấng, chăm chút lành vết thương rồi thả nó về tự do
Nội dung vở kịch anh Vũ viết về quang cảnh ở Hà Nội. Từ khi anh Vũ, chị Quỳnh mất em cũng đổi thay rất nhiều, em làm khổ ông Vũ cũng nhiều.
Phải nói, chị Quỳnh là người rất có lòng tự trọng, chị ấy chẳng thể nào sống trả, nếu anh Vũ yêu người khác thì chị Quỳnh sẽ phải chia tay, chị ấy sẽ chủ động. Đây là giống chim quý ngày xưa dùng để tiến vua. Chị Quỳnh là người quyết liệt lắm, sống đến cùng tận với vơ tình cảm. Chị ấy biết thế mà. Thưa chị, có phải anh Vũ cho rằng mối quan tâm trăn trở nhất của thế cuộc anh ấy chính là thi ca ngay cả khi những vở kịch thành công thời đổi mới đã đưa anh ấy lên hàng kịch tác gia hiện đại lừng danh nhất? Vâng đúng như vậy, thơ luôn luôn là điều anh ấy tâm niệm từ lúc trẻ đến khi mất.
Anh Vũ bảo: “Mẹ đừng kiệm ước, con cũng kiếm được tiền”. Nhưng đấy cũng là chuyện hy hữu thôi, vì nhiều đoàn kịch “ăn nên làm ra” trả nhuận bút kịch bản cho anh Vũ thời điểm ấy cũng được 1-2 chỉ vàng một vở. Sau đó, mẹ em mới đồng ý cho anh Vũ lấy chị Quỳnh và hai người sống với nhau rất hạnh phúc trong 15 năm cuối đời.
Vở kịch ấy đang viết dở dang, mới viết phân vai, mới viết được mấy trang đầu thôi thì anh ấy mất.
Anh ấy nói công khai mà như một cái tuyên ngôn, rất là thương. Lúc đó, chị Quỳnh bảo chị chẳng có gì cả, chị không tin là ông Vũ yêu chị ấy. Chị Lưu Khánh Thơ có thể cho độc giả biết thêm về chuyện này, vì nghe nói trong 2 năm cuối đời, đã có “một bóng hồng” khác trong thế cuộc thi sĩ của Lưu Quang Vũ và chị Xuân Quỳnh cũng mỏng manh biết chuyện ấy, sự thực ra sao khi trong một số bài thơ tình viết cuối đời, hình như Lưu Quang Vũ và Xuân Quỳnh vẫn dành cho nhau sự thương yêu nồng nàn? Anh Vũ em là một người rất tài ba, đa tình và phải công nhận có nhiều cô gái phải lòng anh Vũ và anh ấy yêu cũng khá nhiều người.
Khi em thu thập các bản thảo của anh Vũ, thấy những kịch bản sân khấu viết bằng loại giấy rất là xấu, như là giấy nhặt ở đâu đấy, thậm chí là giấy lai cảo. Nhưng có một buổi sáng không thấy con chim trở về nữa. Và rất nhiều lần anh Vũ nói với em, phải đến 2 năm trước khi mất, anh ấy tâm tư: “Sẽ phải dừng lại, không viết kịch nữa bởi nó cứ ào ào và kéo mình đi, nên phải lắng lại, dành thời kì cho thơ và những sáng tác khác”.
Lưu Quang Vũ viết gì trong vở kịch rút cục? Vở kịch cuối cùng đang viết dở có tên “Chim sâm cầm đã chết”. Việc này chỉ có em với ông anh trai biết thôi, chính em cũng chưa nghĩ ra đâu, ông anh trai bảo phải gặp cô gái đó càng sớm càng tốt kẻo không nó đang hoang mang.
Bài “Lại bắt đầu”-Xuân Quỳnh viết: “Tay trong tay tôi đã bên người/Tôi chẳng nói điều chi về vĩnh viễn/ Bởi ban mai khi mặt trời hiển hiện/Là một ngày tôi lại bắt đầu yêu”. Sớm ra, cứ mở cửa là đã thấy 2-3 ông ngồi chờ ở cầu thang, ngồi trông khổ lắm. Lưu Khánh Thơ, trong số các di cảo đưa vào trọng điểm lưu trữ nhà nước 3, có vở kịch nào của Lưu Quang Vũ bây giờ chưa được công bố không, nghe nói vở kịch rốt cục viết trước khi mất hiện vẫn đang ở dạng bản thảo? Ảnh vợ chồng thi sĩ Lưu Quang Vũ, Xuân Quỳnh.
Trong chuyến đi nghỉ chung cuộc ở Hải Phòng, lúc bấy giờ dẫu anh Vũ có gàn không cho chị Quỳnh đi thì sợ chị lại ngẫm, nên anh Vũ cũng vì nể. Và chị Quỳnh đớn đau ưng ý cái điều ấy, chị không trách móc gì nữa nhưng chị ấy rất đau.
Sau khi điều trị ở bệnh viện về thì chị thấy có đỡ hơn. Trong mấy năm cuối đời, đúng là có “một bóng hồng” trong tình của anh Vũ. Bác sĩ bảo Quỳnh giỏi lắm cũng chỉ sống được 2-3 năm thôi. Trước hay sau thì anh Vũ cũng vẫn là người rất tình nghĩa, rất thương chị Quỳnh nhưng em biết anh ấy có chuyện nọ chuyện kia.
Vì chỉ khi nào mang kịch bản đi đánh máy thì anh Vũ mới gạch bài thơ ấy đi.
Anh Vũ nói phải viết kịch vì đấy là vì nhu cầu của từng lớp, của công chúng sàn diễn và cũng phải viết để sống nhưng mà được sống cho mình, khát khao cho mình nhất vẫn là thơ. Đang viết dở thì anh Vũ đi Hải Phòng và bị tai nạn.
Chị Quỳnh rất đơn chiếc. Chị Quỳnh không hề biết. Cái năm sau, cái năm mà chị Quỳnh ốm đau thì chị ấy không ganh nữa mà chị ấy rất đau đớn vì chị ấy ý thức được cái bất lực, cái giới hạn của mình. Người nó cứ run lập cập lên, mình cũng khóc, vừa mừng vừa sợ, chắc là đúng rồi.
Sau đó, khi vở kịch dựng xong, đoàn kịch Thanh Hóa lại mang hai bao tải lạc vỏ lên cảm ơn, cả nhà em ngồi bóc lạc suốt đêm đến đau cả tay, mỗi bao tải bóc ra chỉ được khoảng 5kg lạc thôi, mẹ gọi em đến cho nửa bao, nhưng hồi đấy lạc cũng quý.
Hình như cô bé thấy có một cái gì đấy không thường nhật lắm. Anh Vũ dặn mẹ với em, những lúc chị Quỳnh đi viện về thì coi ngó nhưng giấu chị, chỉ nói là bị bệnh nhẹ thôi, và bảo chị đừng có tham công tiếc việc, đừng thức đêm thức hôm, phải ngơi nghỉ.
Các bài thơ ấy cũng tương tự như bài “Đêm đông chí, uống rượu với bác Lâm và bác Khánh, nói về những cuộc chia tay thời loạn” trước đây đưa vào các tập thơ của anh Vũ mà phải sau 3 lần mới công bố được.
Em nghĩ cô ấy còn trẻ thế, bây giờ may mà còn giữ được giọt máu của anh mình thì quý hóa quá. PGS-TS Lưu Khánh Thơ: Nói chung là kịch được công bố hết rồi chỉ còn một vở đang viết dở dang thì chưa được công bố thôi.
Chỉ có đau là anh Vũ, nếu có định mệnh thì em cho là chị Quỳnh lôi đi đấy, chị ấy chẳng thể chấp thuận anh Vũ vào tay ai
Hồi đấy nghe nói cũng có người coi anh Vũ như “một thi sĩ đen”. Chị Quỳnh đau xót bảo: “Không! Thơ đừng nghĩ là chị khinh anh ấy, chị không nghĩ đấy là xấu mà là con người anh ấy thế, bản năng con người nó là thế, đó là chuyện rất bình thường của con người!”. Sau đó, láng giềng mới biết chuyện kịch của anh Vũ được trả nhuận bút bằng lạc. Sau đó ông nói với cô bé rằng: “Trước đây ở Hồ Tây này rất nhiều chim sâm cầm, hiện thời bị đánh bắt nhiều quá nên chim không còn nữa.
Cái bài thơ ấy mình thấy nó có cái gì đâu so với thơ giờ, họ còn hoảng hồn hơn nhiều nhưng mà người ta cứ sợ thế cái thời năm 1971- 1972 cuộc chiến tranh đi qua chẳng có gì cùng ta ở lại cả. Sau đó, chị Quỳnh bỏ chồng thật, còn ông thi sĩ kia chẳng chịu bỏ vợ, nên chị Quỳnh rất uất ức.
Có hôm, một số người láng giềng bên cạnh nhà bác mẹ em kháo nhau “ Anh Vũ viết kịch được nhiều tiền thật, có đoàn họ mang cả bao tải tiền lên nhà!”.
Đàn ông ai chả thế. Không gặp được cô ấy, em có để lại mấy chữ.
Chị Quỳnh là người quyết liệt lắm, chị ấy yêu là phải lấy. Có một chuyện kể ra cũng thật là hài hước. Theo lẽ đời, cỏ gấu, cỏ gà thường mọc tràn lan, còn những cái loài hiếm quý thì sẽ bị mai một, bị diệt đi, lẽ đời là thế…”. Những câu thơ chị Quỳnh viết ngày ấy, đọc xong thấy đau đớn, gần như cái chúc thư của chị ấy “Trái tim em nay mỗi phút mỗi giờ/Chỉ có đập cho mình em đớn đau/Trái tim nay chẳng còn có ích/Cho anh yêu, cho công việc, bạn bè”.
Về vở kịch chung cuộc, trước tiên anh Vũ đặt tên là “Chim sâm cầm đã chết”, xong đạo diễn Phạm đô thị bảo ghê quá toàn chết chóc, và anh Vũ đổi thành “Chim sâm cầm không chết”. Mãi cho đến khi in tập “Thơ và đời Lưu Quang Vũ” mới đưa vào được. Năm đấy anh Vũ có làm một cái lịch. Về sau này, chị Quỳnh có kể lại với em về mối tình vỡ lẽ ấy, chị hận nhất là ông nhà thơ kia đã lừa dối, bảo chị bỏ chồng, rồi ông ấy sẽ bỏ vợ để hai người lấy nhau.
Khi in tập thơ “Bầy ong trong đêm sâu” của anh Vũ, anh Vương Trí Nhàn biên tập, là người rất hiểu, rất thân với anh Vũ, anh Nhàn bảo bài này rất hay nhưng chẳng thể đưa nó vào. Đã có lúc anh Vũ đình tạm dừng viết kịch để hoàn tất tập sách “Chân dung đạo diễn”, viết về khoảng 15 đạo diễn.
Có một cái câu sau này mình đọc mình thấy sợ “Tay trong tay tôi đã bên người/Tôi chẳng nói điều chi về vĩnh viễn”. Nhà thơ Lưu Quang Vũ và vợ - nhà thơ Xuân Quỳnh Thưa chị, ngoài làm thơ, viết kịch, nhà thơ Lưu Quang Vũ còn viết truyện ngắn, hồi ký, bút ký và chân dung văn học? Sau tập “Diễn viên sàn diễn” anh Vũ định viết một cuốn sách về các đạo diễn sàn diễn nữa, anh ấy là người rất hiểu nghề, hiểu người.
Anh Vũ rất có khiếu hội họa. Nói thế để thấy, anh Vũ luôn coi thơ là miền đất sáng tạo văn chương tâm đầu ý hợp nhất của mình. Thời ấy, đúng là có chuyện các đoàn kịch cứ đứng chầu trực, rình mò, từ 4-5h sáng ở khu nhà gia đình cha mẹ em. Sau này em nghĩ: Nếu mà không chết chắc gì được bền, có khi lại chia tay mà đối với chị Quỳnh thì đó là điều sống rất què quặt, chị ấy không chịu nổi.
Thành ra với chị Quỳnh đó là sự giải thoát, trước cái chết này. Lúc đó, một số người, trong đó có nhà văn Nguyễn Đình Thi (có thời là cấp trên của mẹ em ở NXB Tác phẩm mới) đến gặp mẹ em để thuyết phục, ông nói: “Chị ạ, hai người đều có tài, thôi chị ủng hộ đi”. Nguyễn Việt Chiến: Thưa PGS-TS. Khoảng 50 vở kịch viết từ năm 1979 đến năm 1988.
Đó là cái chết giải quyết mọi nỗi đau, có lẽ cũng thoả nguyện với chị ấy. Khi anh Vũ mất khoảng 1 tuần hay 10 ngày thôi, em tìm gặp cô diễn viên ấy. Vở đầu tiên là “Sống mãi tuổi 17” diễn ở rạp hát tuổi xanh cho đến vở cuối cùng là “Chim sâm cầm không chết” thì là đang viết dở.
Thật ra, chị Quỳnh có tính ghen khá mạnh mẽ. Bóng hồng cuối đời tình của hai nhà thơ Lưu Quang Vũ và Xuân Quỳnh có điều gì đó giống như một huyền thoại, ngay cả khi phải ra đi họ “vẫn tay trong tay, ở bên nhau”đến phút cuối cùng.
Người bị bệnh tim như vậy mà ôm một nỗi đau như thế thì chẳng thể chịu đựng được. Lúc đó anh Vũ yêu một cô diễn viên trẻ vừa cói tài vừa có sắc, chị Quỳnh biết chuyện.
Anh ấy có một thói quen thuần khiết tác, khi nào viết kịch thấy mỏi mệt, bao tay quá thì anh chuyển sang làm thơ và viết thơ vào giữa những trang bản thảo kịch. Rồi sau đó, chị Quỳnh yêu anh Vũ, một tình yêu thật đặc biệt. Đấy là trong lúc viết kịch bản, anh Vũ chợt nảy ra một ý thơ, một tứ thơ và ngay thức thì anh ấy chuyển từ viết kịch sang làm thơ ngay.
Còn di cảo về thơ thì sao, nghe nói còn khá nhiều bài thơ chưa được công bố, thưa chị? Di cảo thơ của anh Vũ thì còn khá nhiều bài chưa ban bố, trong đó có nhiều bài thơ viết về chiến tranh với cái nhìn khá hư vô, rất gần với thân phận con người và điều quan yếu - rất nhân bản.
Nếu vào thời khắc bây chừ mà viết kịch với tốc độ như anh Vũ ngày ấy thì chắc sẽ giàu to! Tổng bí thư Nguyễn Văn Linh và Lưu Quang Vũ sau đêm diễn. Em nói thật, cái chết này với chị Quỳnh là một sự giải thoát vày chị ấy yêu anh Vũ khủng khiếp, chị là người khôn cùng thông minh, chị Quỳnh tinh thần được cái giới hạn của chị ấy
Khi biết chuyện anh Vũ, chị Quỳnh yêu nhau, mẹ em phản đối lắm. Nên, lúc xử lý bản thảo, ai không biết sẽ tưởng bài thơ đó là viết cho vở kịch. Chị Quỳnh nghĩ anh Vũ thương hại chị vì thời gian rất ngắn sau mối tình vỡ vạc của chị Quỳnh với một ông thi sĩ khác. Mẹ em sống với vợ chồng anh Vũ, chị Quỳnh với thằng cháu, còn em cứ đi đi về về thôi. Cô ấy bật khóc, quán café thì vắng nên người ta cứ nhìn.
Em bảo: “Thứ nhất là anh Vũ mất rồi thì mình thay mặt gia đình, nếu em còn giữ được giọt máu của anh Vũ thì mình sẽ thay mặt gia đình có bổn phận với em”. Có nhuận bút kịch bản đổi bằng mấy bao tải lạc Xin chị cho biết về sự gắn bó của nhà viết kịch, nhà thơ Lưu Quang Vũ với các đoàn kịch cách đây gần 30 năm.
Em bảo thôi cứ đưa nó vào đi nhưng rốt cục vẫn không được duyệt. Anh Vương Trí Nhàn bảo: “Nghe thơ Vũ vừa thích vừa sợ, thơ Vũ một mình một kiểu, một mình một giọng”.
Em đọc, thấy mở ra là bối cảnh Hồ Tây, ngày xưa ở đấy chim sâm cầm nhiều lắm. Khi mà chị Quỳnh cảm thấy sống không còn ái tình nữa thì chị ấy sẽ không chịu giả vờ làm một “mô hình gia đình hạnh phúc” đâu, chị sẽ chủ động chia tay. Tình đầu câu chuyện thế này, đoàn kịch Thanh Hóa lên gặp anh Vũ để đặt kịch bản, ông phó đoàn vác lên nhà một bao tải lạc, nói “Đoàn ở Thanh Hóa bị lũ bão, không có tiền, không có gì cả nhưng rất cần vở để diễn, nên chúng tôi mang bao tải lạc vỏ để biếu gia đình”.
Hay là thơ của hai người cũng thế. Anh Vũ bảo mình cứ chũm viết xong kịch bản này cho họ vì có kịch dựng thì họ sẽ nuôi sống được thêm bao lăm con người.
Khi diễn chúng tôi vẫn nhớ đến anh Vũ và tri ân lắm”. Anh Vũ bảo đã tích lũy được kinh nghiệm của người sáng tác từ người làm báo, và trước khi viết một cuốn sách, có lẽ phải dừng lại mấy năm để tâm can lắng lại rồi mới viết. Chị Quỳnh biên tập thơ ở đâu đấy, thơ lai cảo của báo Văn Nghệ thì mặt sau bản thảo thơ bỏ đi thì anh Vũ viết kịch. Sau này, khi em đọc thư của anh Vũ và chị Quỳnh, em mới biết, lần đầu khi anh Vũ (đang sống đơn thân và có một con riêng) đến tỏ tình với chị Quỳnh (cũng đang sống đơn thân và có một con riêng) là chị ấy khước từ ngay, không phải vì chị không yêu mà chị ấy biết là không lâu bền được.
Năm nào anh ấy cũng vẽ một cái tranh rồi dán lên cái lịch và ở dưới là cái lốc.
Tỉ dụ trong bản thảo vở kịch “Cô gái đội mũ nồi”, ở đoạn anh Vũ viết về ông kiến trúc sư đang vẽ thiết kế cho một ngôi nhà, chợt xuất hiện bài thơ “Mây trắng của đời tôi”. Chị Quỳnh cứ kể mọi chuyện với em, còn em cứ gạt đi bảo chị đừng nghĩ anh Vũ tầm thường như thế, anh ấy là một người nghệ sĩ và anh ấy yêu chị. Có một ông già họ Bạch gặp cô bé bên bờ hồ và hỏi: “Sao cháu có gì băn khoăn mà đứng ở bên hồ”.
Cô ấy khóc 5 phút xong thì bảo “Chị ơi, tiếc là không có, nếu mà có thì không cần gia đình, em cũng sẽ giữ gìn và nuôi nấng”.
Đoàn trưởng chèo Hải Phòng ngày ấy là diễn viên kể lại: “Cho đến hiện giờ tôi vẫn nhớ ngày giỗ anh Vũ, giỗ tôi chẳng có gì cả, tôi chỉ thắp hương và có một bàn độc nhỏ nhỏ ở sau đoàn trong một cái phòng nho nhỏ, mua một gói thuốc lào và một cái điếu cày đặt lên bàn thờ, khi anh Vũ làm việc anh ấy chỉ có thuốc lào và điếu cày bởi vậy tôi rất nhớ! Khi mà tôi đang diễn vở “Ông vua hóa hổ” ở Thủy Nguyên thì nghe tin anh Vũ mất trên đường đi từ Hải Phòng về, thế là chúng tôi vừa ra diễn, kể cả những vai hề, ra sau sàn diễn thì ắt đều khóc.
Chị Quỳnh hồi đấy hay bị ốm, những năm cuối đời thì chị ấy bị bệnh tim rất nặng, anh Vũ nói với em là bác sĩ bảo chị Quỳnh bị nặng lắm, phải có chế độ săn sóc đặc biệt. Chị Quỳnh rất cực đoan, đã yêu là phải lấy, không có chuyện bắt bồ, cái thời đấy nó thế với cả cái tính chị ấy cũng thế.
Thời ấy, có giai thoại về một số đoàn kịch phải”cơm nắm muối vừng” chầu trực nhiều ngày để đợi chờ kịch bản của Lưu Quang Vũ? Anh Vũ có một cá tính khá hay rất hay vì nể.
Đoàn kịch cho biết, họ trân trọng và hàm ơn anh Vũ lắm, vì cái thời bao cấp đói khổ ấy, đoàn chèo đã sống được là nhờ mấy vở của anh Vũ, đầu tiên là vở “Muối mặn đời em” sau đó là vở “Linh hồn của đá” đến vở “Ông vua hóa hổ”, coi như là xông xênh diễn một ngày hai ba buổi, đi về các địa phương lên cả vùng sâu vùng xa diễn mà bán vé rất là rẻ.
Trong con người của anh Vũ, cái phát triển về thiên tài, về con người, về thể chất, chị Quỳnh rất biết và chị là người ganh kinh khủng. Trên cái lịch năm ấy, trong bức tranh anh Vũ vẽ, có nét của cô gái này, nét vẽ rất siêu thực… Nguyễn Việt Chiến.
Chị rất yêu anh Vũ nhưng chị ấy không hài lòng được anh Vũ có cô này cô nọ. Sáng nào con chim ấy cũng bay trở về bờ hồ nơi cô bé ngóng đợi. Anh Vũ mà đi công tác là anh ấy lại gọi thì em lại về nhà ở với mẹ em.
Tam thất hồi đấy còn hiếm, cứ bảo em lên Lãn Ông mua về hấp với quả tim cắt ra để cho chị Quỳnh ăn. Anh Vũ nói với mẹ em đừng hà tằn hà tiện quá, mẹ em cũng là người quản lý sau khi chị Quỳnh đi nằm viện. Đây là câu rốt cục đang viết dở trong kịch bản. Sau đó, cô ta đến cơ quan em, em mời ra quán café, em nói là: “Việc anh Vũ với chị Quỳnh mất như thế, Thơ biết là anh Vũ với em có tình cảm gắn bó”.
Hôm vừa rồi, em cùng Lưu Quang Định (em trai Lưu Quang Vũ) xuống xem Đoàn chèo Hải Phòng dựng lại vở kịch “Ông vua hóa hổ” của anh Vũ cách đây hơn 25 năm. Chứng tỏ cô ấy cũng rất yêu anh Vũ. Có thể là anh Vũ vẫn đưa tiền cho chị ấy, vẫn tử tế, nghĩa tình, thương và hàm ơn nhưng ái tình thì nó khác. Chắc lúc đấy anh Vũ có yêu người khác, chị Quỳnh lại bệnh tật.
Em nghĩ nó như định mệnh ấy. Anh Vũ bảo là mình rất hiểu các đạo diễn vì mình đã hiệp tác nhiều lần với họ, cụ thể như họ đã từng thực hiện trên vở diễn của mình vậy, vì từ phong cách của cá nhân người viết kịch mà hiểu biết được cái phong cách của các đạo diễn là điều anh Vũ rất ý hợp tâm đầu.
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét